Tin tức & Sự kiện
Một số giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)
[09:10 - 27/06/2016]

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Provincial Competitiveness Index) là bộ chỉ số được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) với sự trợ giúp của Cơ quan hợp tác Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ US-Aid nhằm đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành phố của Việt Nam trong việc xây dựng môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh.

Vào năm 2005, lần đầu tiên bộ chỉ số PCI được công bố thí điểm trên cơ sở tám chỉ thành phần, gồm: Chi phí gia nhập thị trường, Tiếp cận đất đai và Sự ổn định trong sử dụng đất, Tính minh bạch và tiếp cận thông tin, Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước, Chi phí không chính thức, Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và Cạnh tranh bình đẳng. Từ năm 2006 đến nay, bộ chỉ số PCI đã được bổ sung thêm hai chỉ số, đó là Thiết chế pháp lý, Đào tạo lao động và bộ chỉ số mới với 10 chỉ số thành phần đã và đang được triển khai tại 63 tỉnh, thành phố trong cả nước.

Ý nghĩa các chỉ số thành phần của PCI

Chỉ số PCI được xây dựng theo quy trình 3 bước: (i) Thu thập dữ liệu điều tra doanh nghiệp bằng phiếu hỏi và dữ liệu từ các nguồn đã công bố, (ii) Tính toán 10 chỉ số thành phần và chuẩn hóa kết quả theo thang điểm 10 và (iii) Tính trọng số cho chỉ số PCI trung bình của 10 chỉ số thành phần trên thang điểm 100. Theo đó, các chỉ số thành phần trong bộ chỉ số PCI được tiến hành đánh giá như sau:

(1) Chi phí gia nhập thị trường: Chỉ số này được xây dựng nhằm đánh giá sự khác biệt về chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới thành lập giữa các tỉnh với nhau, cụ thể: các cuộc điều tra, khảo sát sẽ đánh giá thời gian số ngày tiến hành các thủ tục đăng ký, thành lập doanh nghiệp và sẽ thống kê xem doanh nghiệp phải bỏ bao nhiêu chi phí để có được giấy đăng ký và giấy phép cần thiết để chính thức đi vào hoạt động, vv... Bên cạnh đó, chỉ số PCI cũng đánh giá các thủ tục của nhà nước tại bộ phận một cửa có rõ ràng và đầy đủ; đánh giá sự am hiểu về trình độ chuyên môn, sự nhiệt tình và thông thạo công nghệ của cán bộ phục vụ tại bộ phận này.

(2) Tiếp cận đất đai và Sự ổn định trong sử dụng đất: Cán bộ điều tra sẽ đo lường về hai khía cạnh của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt, đó là việc tiếp cận đất đai có dễ dàng không và doanh nghiệp có thấy yên tâm và được đảm bảo về sự ổn định khi có được mặt bằng kinh doanh hay không, bao gồm: bao nhiểu phần trăm doanh nghiệp có mặt bằng kinh doanh và có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; bao nhiêu phần trăm diện tích đất trong tỉnh có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; bao nhiêu phần trăm doanh nghiệp có nhu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không có do thủ tục hành chính rườm rà hoặc lo ngại cán bộ nhũng nhiễu, vv...

(3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: Chỉ số đo lường khả năng tiếp cận các kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và liệu doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách công bằng các văn bản này hay không (?); các chính sách và quy định mới có được tham khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các chính sách,quy định đó và mức độ tiện dụng của trang web của tỉnh đối với doanh nghiệp.

(4) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước: Chỉ số đo lường thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra. Trong đó, chỉ số sẽ đánh giá bao nhiêu phần trăm doanh nghiệp sử dụng nhiểu hơn 10% quỹ thời gian để tìm hiểu và thực hiện các quy định pháp luật của Nhà nước; đếm số cuộc thanh tra, kiểm tra trung vị của tất cả các cơ quan đối với doanh nghiệp; các thủ tục giấy tờ có đơn giản không; việc thu phí, lệ phí có được công khai (?), vv... Bên cạnh đó chỉ số cũng đánh giá mức độ thân thiện, gần dân và hiệu quả giải quyết công việc của của cán bộ nhà nước.

(5) Chi phí không chính thức: Chỉ số đo lường các khoản chi phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do những chi phí không chính thức này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợi hay không.

(6) Cạnh tranh bình đẳng: Chỉ số này đánh giá mức độ cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong tỉnh với nhau, cụ thể, chỉ số sẽ đánh giá việc nhà nước dành sự ưu ái cho các tổng công ty, tập đoàn của Nhà nước có gây khó khăn cho doanh nghiệp hay không; đánh giá sự tiếp cận dễ dàng về đất đai có là đặc quyền dành cho các tập đoàn kinh tế của Nhà nước. Ngoài ra, chỉ số cũng đo lường việc tiếp cận dễ dàng của doanh nghiệp nhà nước đối với các khoản tín dụng; thủ tục hành chính nhanh chóng và những ưu tiên khác dành cho các doanh nghiệp nhà nước, vv...

(7) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp: Chỉ số này trước kia gọi là Chính sách phát triển kinh tế tư nhân, dùng để đo lường các dịch vụ của nhà nước trong phát triển khu vực tư nhân như: xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, phát triển các khu/cụm công nghiệp tại địa phương và cung cấp các dịch vụ công nghệ cho doanh nghiệp. Hiện tại, phần lớn chỉ số này được sử dụng để đo đếm phần trăm các doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng các dịch vụ công của nhà nước để cho điểm.

(8) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh: Chỉ số này đo lường tính sáng tạo, sáng suốt của lãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp.

(9) Đào tạo lao động: Đo lường các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm.

(10) Thiết chế pháp lý: Chỉ số này đo lường lòng tin của doanh nghiệp tư nhân đối với hệ thống tòa án, tư pháp của tỉnh và liệu các thiết chế pháp lý này có được doanh nghiệp xem là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương.

Theo Báo cáo thường niên Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2015, nếu tính cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các doanh nghiệp dân doanh đang hoạt động và doanh nghiệp mới thành lập, điều tra PCI năm 2015 đã thu hút hơn 11.700 lượt tham gia. Loại bỏ những doanh nghiệp sai địa chỉ hoặc không liên lạc được, con số này tương đương với tỉ lệ phản hồi là 60%. Cũng theo báo cáo này, năm 2015 là năm thứ ba liên tiếp thành phố Đà Nẵng trụ vững tại ngôi đầu bảng với số điểm 68,34. Trong các yếu tố làm nên bộ chỉ số ấn tượng của thành phố Đà Nẵng, phải kể đến một yếu tố trọng tâm đã đưa Đà Nẵng luôn ở vị trí quán quân số một đó là kể từ khi Trung tâm hành chính tập trung của thành phố đi vào hoạt động từ tháng 9/2014, Trung tâm này đã phát huy hiệu quả trong việc tiết kiệm nhiều thời gian, công sức, tiền bạc cho cả người dân, doanh nghiệp lẫn cán bộ, công chức. Báo cáo cũng ghi nhận những địa phương xuất sắc khác trong nỗ lực cải thiện và nâng cao chỉ số đó là các tỉnh: Đồng Tháp (66,39 điểm); Quảng Ninh (65,75 điểm), là những tỉnh đứng đầu của bảng xếp hạng với nhiều sáng kiến cải cách trong cải cách hành chính như tinh gọn bộ máy, công khai, minh bạch trong đánh giá và lựa chọn cán bộ. Hai địa phương tiếp theo nằm trong nhóm có chất lượng điều hành rất tốt của PCI 2015 lần lượt là Vĩnh Phúc (62,56 điểm) và Lào Cai (62,32 điểm). Bên cạnh những thuận lợi, tích cực cũng như khó khăn của các tỉnh trong cuộc phấn đấu tranh giành vị trí bảng xếp hạng PCI, báo cáo cũng nêu bật những khó khăn, gánh nặng lớn khiến các doanh nghiệp nhỏ và vừa lo ngại, đó là: gánh nặng về thanh tra, kiểm tra, gánh nặng về thủ tục hành chính. Theo đó, 74% doanh nghiệp từng đón tiếp các đoàn thanh kiểm tra trong tất cả các lĩnh vực. Có một hiện tượng đáng lo ngại là các doanh nghiệp có quy mô càng lớn, gánh nặng về thanh kiểm tra càng cao. Các DNNVV thông thường phải tiếp đón 1-2 cuộc thanh kiểm tra (trung vị) trong năm. Với các doanh nghiệp quy mô lớn, con số này là khoảng 3 cuộc. Ngoài ra, 25% doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và 30% doanh nghiệp vừa cho biết nội dung thanh kiểm tra bị trùng lặp. Về thủ tục hành chính, Các thủ tục hành chính về bảo hiểm xã hội, đất đai, hải quan, an toàn cháy nổ, lao động, bảo vệ môi trường, và thanh toán qua kho bạc đều là những lĩnh vực mà tỷ lệ doanh nghiệp thấy phiền hà gia tăng theo quy mô của doanh nghiệp[1]

So sánh chỉ số PCI của tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh trong khu vực miền núi phía Bắc

Trong cuộc đua tranh thứ hạng PCI, nhiều địa phương trong nước đã lần lượt ban hành nhiều chính sách có lợi cho doanh nghiệp và người dân, tích cực cải thiện mạnh mẽ các thủ tục hành chính rườm rà để nâng cao vị thế của địa phương trong bảng xếp hạng. Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Quyết định số 45/QĐ-UBND, ngày 27 tháng 02 năm 2013 về việc ban hành Chương trình hành động cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh giai đoạn 2013 – 2015. Mục tiêu của Chương trình hành động là góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2013 – 2015, góp phần sớm đưa Tuyên Quang thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển và phấn đấu trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực miền núi phía Bắc. Tiếp theo, ngày 2/5/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh cũng ban hành Quyết định số 410/QĐ-CT về việc thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình hành động cải thiện Chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) tỉnh Tuyên Quang (Ban chỉ đạo PCI). Theo đó, Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo, triển khai thực hiện các nội dung, nhiệm vụ và giải pháp tại Chương trình hành động cải thiện Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2013 - 2015 theo đúng quy định và đảm bảo hoàn thành các mục tiêu đã đề ra. Ngoài ra, nhằm tăng cường các cuộc tiếp xúc trực tiếp và kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, tỉnh Tuyên Quang đã và đang duy trì đều đặn chương trình Cà phê doanh nhân với sự tham dự của lãnh đạo Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình hành động cải thiện Chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) tỉnh Tuyên Quang và đại diện  Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Đây là chương trình có ý nghĩa rất lớn, thể hiện sự quan tâm và năng động của lãnh đạo tỉnh, của Ban chỉ đạo PCI trong việc lắng nghe ý kiến doanh nhân, đối thoại trực tiếp với doanh nhân để nắm bắt sâu hơn về những thuận lợi cũng như khó khăn của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, từ đó có những giải pháp tháo gỡ kịp thời những khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp.

Tại thời điểm năm 2013, chỉ số PCI của tỉnh Tuyên Quang đứng ở vị trí thấp so với vị trí các tỉnh trong khu vực (48,98). Chỉ trong thời gian ngắn, nhờ có Chương trình hành động và cùng với nỗ lực cao của các cơ quan, ban, ngành trong tỉnh, chỉ số PCI đã được cải thiện đáng kể vào năm 2014 (55,2), vươn lên đứng thứ 50 trên cả nước. Năm  2015, do nỗ lực cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, đã có nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn tìm đến đầu tư vào tỉnh như: Tập đoàn Vingroup, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Tập đoàn Mường Thanh... trong các lĩnh vực khách sạn, may mặc... Chỉ số trong bảng xếp hạng năm 2015 đạt 56,81, tăng 1,61 điểm so với năm 2014, xếp thứ 48 trong cả nước và đứng thứ 7 trong khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc.  Trong đó, năm 2015 cao nhất là chỉ số Gia nhập thị trường đạt 7,94 điểm (cao hơn 0,58 điểm so với năm 2014); kế đến là Đào tạo lao động đạt 6,28 điểm (thấp hơn 0,07 điểm só với năm 2014); Tiếp cận đất đai đạt 6,07 điểm (cao hơn 1,17 điểm so với năm 2014); thấp nhất là chỉ số tính năng động, đạt 4,73 điểm (nhưng lại cao hơn 0,14 điểm so với năm 2014). So với các tỉnh trong khu vực, tỉnh Lào cai với chỉ số 62,32 điểm, là tỉnh có chỉ số PCI cao nhất trong khu vực, cao hơn tỉnh Tuyên Quang 5,51 điểm; thấp nhất là tỉnh Hà Giang, tụt hạng với 50,45 điểm, xếp thứ 62/63 tỉnh, thành phố trong cả nước và xếp thứ 14 trong khu vực.

Khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chỉ số PCI của tỉnh trong thời gian tới

Nhằm nâng cao chỉ số cạnh tranh, tỉnh đã ban hành Chương trình hành động cải thiện Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2013 – 2015; thành lập Ban chỉ đạo PCI; tổ chức chương trình Cà phê doanh nhân. Đây là những chính sách đúng đắn, giải pháp năng động đối với bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Tuy nhiên, để tiếp tục cải thiện, nâng cao chỉ số PCI, phấn đấu đưa vị trí của tỉnh vào danh sách những tỉnh có chỉ số PCI vào hạng khá trong cả nước và khu vực, cần sự vào cuộc của tất cả các cấp, các ngành trong cải cách mạnh mẽ các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian trong giải quyết các thủ tục hành chính, đổi mới phương pháp làm việc theo hướng thân thiện, gần dân, tích cực trau dồi nâng cao trình độ chuyên môn, tin học trong ứng dụng giải quyết hành chính công... Theo đó, cần tập trung vào các giải pháp sau:

Một là, đề nghị tỉnh tiếp tục sớm ban hành Chương trình hành động cải thiện Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2016 – 2020, trong đó giao nhiệm vụ cho các cấp, các ngành liên quan xây dựng chương trình, kế hoạch cải thiện chỉ số PCI theo lĩnh vực ngành quản lý, trước mắt chú trọng cải thiện các chỉ số thành phần thấp. Đối với các chỉ số thành phần thấp, các chương trình, kế hoạch cải thiện, nâng cao chỉ số cần tập trung phân tích làm rõ nguyên nhân, từ đó đề ra các giải pháp cải cách và lộ trình thực hiện về thời gian, đảm bảo thực hiện từng bước có hiệu quả chương trình cải cách.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách của tỉnh để thu hút đầu tư.

Thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật chưa phù hợp, bãi bỏ các văn bản không còn hiệu lực; nghiên cứu rút ngắn thời gian thủ tục hành chính cấp phép cho các dự án đầu tư mới, thành lập mới doanh nghiệp. Nghiên cứu cách thức cải cách thủ tục hành chính của các nước, đặc biệt là nghiên cứu mô hình, cách thức cải cách hành chính trong cấp phép đầu tư trong khu vực ASEAN nhằm rút ngắn thời gian cấp phép cho các dự án đầu tư mới[2]

Ba là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của lãnh đạo cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ, công chức trong việc nâng cao chỉ số PCI của tỉnh.

Không ngừng nâng cao về nhận thức, trách nhiệm và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, các cơ quan đơn vị trong vận dụng sáng tạo, linh hoạt các quy định, quy trình, thủ tục trong giải quyết công việc; chủ động đề xuất các cơ chế, chính sách  và giải pháp tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi trên địa bàn. Thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận một cửa, một cửa liên thông, cán bộ tham mưu quản lý trong lĩnh vực đầu tư, cấp giấy phép, cán bộ tiếp xúc thường xuyên với doanh nghiệp, tổ chức và công dân.

Bốn là, nâng cao chất lượng và khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho doanh nghiệp.

Đảm bảo nâng cao chất lượng và cung cấp ổn định các dịch vụ cho doanh nghiệp về điện, nước, viễn thông, tín dụng, ngân hàng… để các doanh nghiệp yên tâm sản xuất, kinh doanh. Hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp trong xác định, tiếp cận thị trường, xúc tiến đầu tư thông qua các chương trình xúc tiến đầu tư của tỉnh; xây dựng các ấn phẩm xúc tiến đầu tư với nội dung và hình ảnh chất lượng cao; khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng các bộ thông tin, hình ảnh động để giới thiệu về doanh nghiệp để nâng cao khả năng hợp tác đầu tư với các đối tác nước ngoài, đặc biệt là khi Việt Nam trở thành thành viên của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Cung cấp và chuyển giao các dịch vụ khoa học, công nghệ để hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, sở hữu công nghiệp, trí tuệ, quảng bá sản phẩm. Khuyến khích các doanh nghiệp liên kết sản xuất kinh doanh, thực hiện dự án đầu tư lớn.

Năm là, huy động nguồn lực đầu tư để xây dựng các khu công nghiệp hiện đại, đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, kỹ thuật đảm bảo xa khu dân cư để thu hút các nhà đầu tư lớn.

Ban hành cơ chế khuyến khích thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước có năng lực và kinh nghiệm đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh với hình thức đầu tư và kinh doanh phù hợp.

Nghiên cứu, học tập quy hoạch xây dựng khu công nghiệp của các nước trong khu vực ASEAN và thế giới, từ đó lựa chọn các ưu điểm và tính vượt trội trong quy hoạch để áp dụng trong xây dựng các khu, cụm công nghiệp của tỉnh, như: ưu điểm về không gian bài trí, phân khu chức năng, tiêu chuẩn môi trường... trong các khu, cụm công nghiệp.

Nguyễn Thanh Hiếu

Trưởng phòng HTQT, Sở Ngoại vụ

 

[1] Theo Báo cáo thường niên Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2015.

[2] Ngày 11/1/2016, Ban quản lý đầu tư Quốc gia Indonesia (BKMP) đã tuyên bố chương trình cấp phép đầu tư chỉ trong vòng 3 tiếng. Theo đó, những dự án cơ sở hạ tầng trong 4 lĩnh vực như giao thông, năng lượng và khoáng sản, dịch vụ cộng đồng, thông tin liên lạc có thể nhận được tối đa 9 loại giấy phép cần thiết chỉ trong vòng 3 tiếng, bao gồm giấy đăng ký kinh doanh, giấy phép đầu tư, đăng ký thuế, đăng ký lao động,... (theo “BKPM Offers 3-hour Permit Service for Big Investors”, Báo TEMPO.CO, Jakarta)